Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Làm sao để điều trị ung thư tiền liệt tuyến hiệu quả?

Ung thư tiền liệt tuyến đang là nổi ám ảnh của cánh mày râu, đặc biệt là đối với những người đang ở độ tuổi trung niên và lão niên. Vậy có giải pháp nào cho cánh mày râu để thoát khỏi căn bệnh này không?


Các phương pháp điều trị:

- Điều trị phẫu thuật ung thư tiền tiệt tuyến như thế nào?
Điều trị phẫu thuật ung thư tiền liệt tuyến thường là phẫu thuật cắt bỏ tận gốc, tức lấy đi toàn bộ tiền liệt tuyến. Phẫu thuật này được làm ở khoảng 36% bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú tại chỗ. Tai biến xảy ra khi mổ ung thư là tai biến lúc gây mê, chảy máu chỗ mổ, liệt dương chiếm tỷ lệ 30% - 70%, tiểu không tự chủ chiếm 3%-10% bệnh nhân.


Những tiến bộ gần đây giúp làm giảm biến chứng của phẫu thuật cắt bỏ tận gốc. 
Nếu sau khi mổ, mà bệnh nhân bị liệt dương thì có thể điều trị bằng sildenafil (Viagra) viên uống, hoặc chích thuốc alprostadil (Caverject) vào dương vật, bằng phương pháp bơm hoặc dùng dụng cụ tác động lên dương vật (dương vật giả). Tiểu không kiểm soát thường hồi phục theo thời gian, đặc biệt là tập luyện và dùng thuốc để kiểm soát són tiểu.

- Xạ trị trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến được thực hiện như thể nào?
Mục tiêu của xạ trị là nhằm phá huỷ các tế bào ung thư và ngăn không cho chúng phát triển hay tiêu diệt chúng. Các thử nghiệm lâm sàng đã hướng tới việc dùng tia xạ để điều trị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú. Thử nghiệm này cho thấy rằng xạ trị mang lại kết quả sống sót sau 10 năm tương đương với phương pháp mổ. Tiểu không kiểm soát và liệt dương xảy ra do phương pháp mổ có lẽ cao hơn so với xạ trị. Tuy nhiên, tái phát ung thư đôi lúc có thể xảy ra sau xạ trị.
Việc chọn lựa xạ trị và phẫu thuật để điều trị ung thư tiền liệt tuyến khu trú tại chỗ tuỳ thuộc vào sự chọn lại của bệnh nhân, tuổi tác, các bệnh khác phối hợp cũng như mức độ lan rộng của ung thư.


Xạ trị có thể là xạ trị ngoài thời gian 6 - 7 tuần hoặc cũng có thể là xạ trị trong, tức cắm chất phóng xạ trực tiếp vào tiền liệt tuyến.
+ Phương pháp xạ trị ngoài là dùng tia X có năng lượng cao chiểu thẳng trực tiếp vào khối ung thư.
+ Xạ trị trong là người ta dùng kim cắm xuyên qua tuyến tiền liệt ung thư dưới hướng dẫn của siêu âm. 
Lợi ích và bất lợi của xạ trị trong và xạ trị ngoài đến nay vẫn chưa có nghiên cứu.

- Hormone điều trị ung thư tiền liệt tuyến là gì?
Hormone nam còn gọi là testosterone, hormone này kích thích tế bào tiền liệt tuyến bị ung thư, làm u to ra thêm. Lý tưởng nhất trong tất cả các hormone điều trị là giảm được sự kích thích tế bào ung thư do testosterone.

Điều trị bằng hormone cũng được kể đển như là biện pháp làm giảm lượng testosterone trong máu, cũng có thể bằng mổ hoặc bằng thuốc. 
+ Điều trị phẫu thuật tinh hoàn (hay còn gọi là thiến) là phương pháp làm giảm hormone. Phẫu thuật này là cắt bỏ tận gốc nơi sản xuất ra testosterone của cơ thể. 
+ Điều trị bằng hormone bao gồm dùng một hoặc hai loại thuốc. Một loại thuốc được chọn lựa là thuốc kháng LH-RH. Thuốc này có tác dụng cạnh tranh với LH-RHcủa cơ thể. Do đó thuốc này ức chế sự phóng thích LH-RH từ não. Một loại thuốc khác cũng được chọn lựa, là loại thuốc có tác dụng kháng androgenic, là thuốc kháng nội tiết tố nam. Thuốc này ức chế tác dụng của testosterone trị tiền liệt tuyến.


Hiệu quả và tác dụng phụ của điều trị bằng hormone cũng ngang như thiến. Cả hai phương pháp điều trị bằng hormone này đều có tác dụng loại bỏ sự kích thích tế bào ung thư của testosterone. Tuy nhiên, một số u tiền liệt tuyến không đáp ứng với các hình Thửc điều trị này. Đó là những dạng ung thư tiền liệt tuyến không phụ thuộc với androgen (nội tiết tố nam). Tác dụng phụ chủ yếu của các phương pháp điều trị hormone (do mất đi nội tiết tố nam) này là làm vú người đàn ông to ra và bất lực (liệt dưong).

Thường phương pháp điều trị bằng hormone dành cho những bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến đã tiến triển xa hoặc ung thư đã di căn. Đôi khi, người bệnh chỉ bị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú nhưng vẫn điều trị bằng phương pháp hormone vì người bệnh có thêm những bệnh nặng khác phối hợp, hay đơn giản là người bệnh từ chối mổ hay xạ trị. 
Điều trị bằng hormone thường áp dụng cho ít hơn 10% bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú. Nên nhớ rằng, điều trị bằng hormone chỉ là tạm thời. Mục đích là kiểm soát bệnh ung thư hơn là chữa bệnh ung thư vì bệnh ung thư không thể chữa được.

- Liệu pháp “lạnh ” trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến là gì?
Liệu pháp “lạnh” là một trong những phương pháp chữa trị mới mẻ đang được thử nghiệm dùng trong chữa trị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn sớm. Với phương pháp này tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt bằng cách bị đông cứng lại. Sự đông cứng sẽ xảy ra khi tiêm trực tiếp vào tuyến tiên liệt một dung dịch lạnh (ví dụ nitơ hay argon ở thể lỏng). Quá trình trên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của siêu âm. 

Hiện nay, phương pháp “lạnh” đang được khuyến cáo sử dụng cho những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn còn khu trú mà vì một lý do nào đó không thể thực hiện được bất kỳ phương pháp chữa trị nào khác. Người ta vẫn còn đang nghiên cứu xem những bệnh nhân nào có thể áp dụng biện pháp này có lợi nhất. 
Tuy nhiên, hiệu quả của liệu pháp này trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến còn chưa được chứng minh cụ thể. Chúng ta được biết rằng đôi khi dung dịch tiêm vào lại không tiêu diệt được hết tế bào ác tính. Hơn nữa, phương pháp này còn “âm thầm” gây những tổn thương lên bàng quang và niệu đạo. Những tổn thương này có thể gây tắc nghẽn niệu đạo, rò niệu đạo (rỉ nước tiểu ra từ một đường bất thường), hoặc gây những nhiễm trùng trầm trọng.

- Thế nào là hoá trị trong ung thư tiền liệt tuyến?
Hoá trị là phương pháp điều trị bằng thuốc, mà ở đây là những thuốc chống ung thư. Đây được coi như là một phương pháp điều trị tạm thời dành cho những trường hợp bệnh đã tiến triển xa, không thể điều trị có hiệu quả. Cũng cần ghi nhận rằng những thuốc này làm khối u phát triển chậm hơn và làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân. 
Thường không áp dụng hoá trị cho ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn còn khu trú bởi còn nhiều phương pháp khác tốt hơn. Hoá trị thường dùng trong trường hợp ung thư tiền liệt tuyến đã di căn xa (tế bào ung thư đã xâm nhập đển những nơi khác trong cơ thể) và không đáp ứng với những phương pháp điều trị khác.

Những tác dụng khác thường thấy của hoá trị là mệt mỏi, buồn nôn, rụng tóc, và gây suy tuỷ. Đối với suy tuỷ, thì lần lượt giảm hồng cầu (gây thiểu máu), giảm bạch cầu (dễ nhiễm trùng), giảm tiểu cầu (dễ chảy máu).

- Thể còn những loại thảo dược hay những phương thuốc điều trị thay thế khác?
Những thuốc điều trị thay thể gồm những phương pháp không “chính thống” như dùng thảo dược, chế độ ăn kèm theo, châm cứu. Trong phương pháp dùng thảo dược, những thành phần của thuốc không được tiêu chuẩn hoá, cơ chế tác dụng của các loại thảo dược cũng như các tác dụng lâu dài của nó chưa được biết rõ.


Tuy nhiên, trên thực tế cũng đã có nhiều bệnh nhân sử dụng phương pháp này và đem lại hiệu quả tốt. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp hỗ trợ cho việc điều trị ung thư tiền liệt tuyến bằng các phương pháp khác như phẫu thuật, xạ trị, hoá trị,...
Một số thảo dược giúp phòng và hỗ trợ trị ung thư tiền liệt tuyết tốt như: rễ cây tầm ma, rễ cây hồng quân, hoa đu đủ đực,...
⋙ Xem thêm: 

Nguyên nhân và triệu chứng của bệnh ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những căn bệnh ung thư nguy hiểm nhất ở nam giới. Theo thống kê ở mỹ, năm 1999, có 185.000 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến mới đưọc chẩn đoán tại Mỹ. Trong số đó có hơn 31.000 trường hợp tử vong có liên quan đến bệnh ung thư tiền liệt tuyến năm 2000.



Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân gây ra ung thư tiền liệt tuyến vẫn chưa rõ, các yếu tố nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến bao gồm:
+ Lớn tuổi: Nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến tăng theo tuổi. Vì vậy ung thư tiền liệt tuyến cực kỳ hiếm gặp ở người dưới 40 tuổi, trong khi ung thư tiền liệt tuyến lại rất thường gặp ở đàn ông trên 80 tuổi.
+ Di truyền cũng là yếu tố nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến.
+ Yếu tố môi trường như hút thuốc lá, ăn nhiều mỡ bão hoà sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến. Tất cả những chất hay độc tố trong môi trường hay từ chất thải của ngành công nghiệp nặng có thể khỏi phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến.

Triệu chứng của bệnh
Vào giai đoạn sớm, ung thư tiền liệt tuyến thường không gây ra triệu chứng trong suốt vài năm. Ung thư tiền liệt tuyến thường được phát hiện đầu tiên bởi những bất thường trong xét nghiệm máu hoặc sờ thấy một khối cứng ở tiền liệt tuyến.


Khi khối ung thư lớn gây chèn ép vào niệu đạo làm cho người bệnh khó đi tiểu, tiểu lắt nhắt, phải rặn. Người bệnh có thể có cảm giác Tiểu rát, tiểu ra máu. Nếu khối ung thư tiền liệt tuyến tiếp tục phát triển có thể gây bí tiểu hoàn toàn, làm cho người bệnh đau vùng bụng dưới, bàng quang căng to vì không thể đi tiểu được.
Về sau, khối ung thư tiền liệt tuyến xâm lấn sang các cơ quan lân cận, hay đi xa hơn đển các hạch bạch huyết vùng chậu; các đốt sống thắt lưng thấp hay xương chậu, là nguyên nhân gây ra đau lưng hay đau vùng chậu; lan đến gan, phổi, nếu lan đến gan sẽ gây ra đau bụng và vàng da, còn lan đến phổi gây ra đau ngực và ho.

Cách phát hiện bệnh
Tầm soát ung thư tiền liệt tuyến là thực hiện thường xuyên, cách đều nhằm phát hiện ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn sớm. Nếu kết quả tầm soát bình thường, thì coi như hiện tại không mắc bệnh. Nếu kết quả xét nghiệm có bất thường thì nghi ngờ có bệnh, khi đó cần làm thêm một số xét nghiệm khác để chẩn đoán (cũng giúp chẩn đoán phân biệt). 

Khi có một hoặc hai xét nghiệm tầm soát có bất thường thì ung thư tiền liệt liệt tuyến được nghi ngờ trước tiên. Các thăm khám tầm soát này bao gồm khám tiền liệt tuyến bằng tay và đo chất PSA (kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến). Bác sĩ dùng ngón tay trỏ đưa qua ngả hậu môn để khám, nhằm phát hiện những bất thường của tiền liệt tuyến như sờ thấy cứng, bờ không đều, tất cả những dấu hiệu này nghi ngờ ung thư tiền liệt tuyến. 
Vì vậy, bác sĩ thường khuyên người đàn ông trên 40 tuổi nên được khám tiền liệt tuyến bằng tay mỗi năm một lần.

Tìm hiểu chung về căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt

Tiền liệt tuyến là gì?
Tiền liệt tuyến là một cơ quan nằm ở bụng dưới hay cổ bàng quang. Là tuyến bao quanh đoạn đầu của niệu đạo.
Chức năng của tuyến tiền liệt:
+ Giúp kiểm soát nước tiểu bằng cách tạo áp lực trực tiếp đối với phần niệu đạo mà tiền liệt tuyến bao quanh.
+ Sản xuất một số chất có trong tinh dịch như muối khoáng và đường. 
Tinh dịch là chất dịch có chứa tinh trùng. Tuy nhiên tinh dịch còn được sản xuất không phải hoàn toàn từ tiền liệt tuyến.


Ở nam giới còn trẻ có thể kích thước tiền liệt tuyến bằng như quả óc chó. Tuy nhiên tiền liệt tuyến lớn lên theo tuổi. Tiền liệt tuyến to lên theo tuổi được gọi là phi đại tiền liệt tuyến lành tính, bệnh này không phải là ung thư tiền liệt tuyến. Cả hai vấn đề phì đại lành tính (hay gọi là u xơ) tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến có thể là cùng nguyên nhân của vấn đề ở người đàn ông lớn tuổi. 
Chẳng hạn tiền liệt tuyến lớn có thể gây chèn ép hay gây ảnh hướng đển chỗ thoát nước tiểu của bàng quang hay niệu đạo, gây tiểu khó. Kết quả là tiểu lâu, lắt nhắt, tiểu phải rặn, tiểu nhiều lần, đặc biệt về ban đêm hay đi tiểu.

Ung thư tiền liệt tuyến là gì?
Ung thư tiền liệt tuyến là khối u ác tính phát triển từ tế bào của tiền liệt tuyến. Khối u thường phát triển chậm và kéo dài trong nhiều năm. Trong suốt thời gian này, khối u thường có rất ít hoặc không có triệu chứng hoặc có biểu hiện triệu chứng (bất thường khi khám bệnh).
Tuy nhiên, khi ung thư tiến triển, ung thư lớn lên và xâm lấn sang mô xung quanh (lan rộng tại chỗ). Hơn nữa, ung thư cũng có thể di căn (lan xa hơn) đển các vùng khác của cơ thể như xương, phổi, gan. Triệu chứng ở những nơi di căn đến thường kết hợp với triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến.

Tại sao ung thư tiền liệt tuyến lại nguy hiểm?

Ung thư tiền liệt tuyến là một bệnh ác tính thường gặp ở đàn ông Mỹ, nguyên nhân tử vong thứ 2 của bệnh ung thư, sau ung thư phổi. Đa số những nhà chuyên môn đề nghị rằng tất cả những người đàn ông từ 40 tuổi trở đi nên tầm soát ung thư tiền liệt tuyến mỗi năm một lần.

Các giai đoạn của ung thư tiền liệt tuyến
Việc phân chia giai đoạn ung thư tiền liệt tuyến dựa vào mức độ lan rộng của ung thư. Ung thư tiền liệt tuyến được chẩn đoán dựa vào sinh thiết, thêm vào đó là đánh giá ung thư có di căn hay chưa, bằng cách sinh thiết các cơ quan lận cận như trực tràng, bàng quang, hay các hạch vùng chậu. Thêm vào đó cần làm thêm các xét nghiệm chẩn đoán bằng hình ảnh.
Tóm lại, bác sĩ chia giai đoạn ung thư tiền liệt tuyến trước tiên là dựa trên kết quả sinh thiết tiền liệt tuyến và có thể là trên các mẫu sinh thiết khác và chụp phim. 
Có hai hệ thống chính được sử dụng để phân chia giai đoạn ung thư. 


- Theo Hội Ung thư Mỹ về sắp xếp giai đoạn:
+ Giai đoạn A là ung thư còn rất nhỏ, không thể sờ đụng được khi bác sĩ khám bệnh, cũng không thể thấy được khi làm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh; tổn thương này chỉ có thể phát hiện khi quan sát dưới kính hiển vi. 
+ Giai đoạn B, là khối u lớn hơn, có thể sờ thấy được nhưng chỉ nằm khu trú tại tuyến tiền liệt. 
+ Giai đoạn C là khối ung thư ăn lan ra cơ quan lân cận. 
+ Giai đoạn D1, ung thư lan ra gần ở hạch chậu; D2 là ung thư lan xa hơn (di căn) chẳng hạn như xương, gan, phổi.
- Một hệ thống khác phân chia giai đoạn ung thư tiền liệt tuyến gọi là u, hạch, di căn (TNM). Theo cách phân chia này:
+ T1 và T2 tương đương giai đoạn A và B như hệ thống phân loại đã nêu ở trên. 
+ T3 được mô tả là ung thư lan ra khỏi bao của tiền liệt tuyến.
+ T4 là ung thư lan ra mô xung quanh. 
+ N1 tương đương giai đoạn D1 và M1 tương đương giai đoạn D2.

⋙ Xem thêm:

Các phương pháp điều trị ung thư đường mật

Thông thường người ta chỉ biết ung thư gan dạng ung thư tế bào gan, nhưng có dạng ung thư đường dẫn mật rất quan trọng mà chẩn đoán vô cùng khó khăn, khi đã chẩn đoán ra bệnh thường đã quá trễ.

Ung thư đường mật thường xảy ra ở người lớn trên 60 tuổi với nam giới hoi chiếm ưu thế, mặc dù thỉnh thoảng người trẻ vẫn mắc bệnh ung thư đường dẫn mật. Những điều kiện khác nhau như viêm đường mật (cholangitis), sỏi, tắc nghẽn đường mật có liên quan đến tần xuất gia tăng carcinoma đường mật.

Một số yếu tố có thể gây ung thư đường mật:
  • Bệnh túi mật.
  • Viêm xơ đường ruột.
  • Nhiễm sán lá gan.
  • Viêm loét đại tràng.
  • Viêm gan c kèm nhiễm ký sinh trùng.
Các dấu hiệu lâm sàng
Những bệnh nhân biểu hiện vàng da với phân bạc màu, tiểu sậm và ngứa. Những triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi, chán ăn, sụt cân và sốt không tìm được nguyên nhân có thể đồng hành hoặc đi trước sự tiến triển của vàng da.
Cản trở đường mật có thể gây nên những vấn đề thứ phát nghiêm trọng. Đầu tiên, những bệnh nhân tắc mật sẽ dẫn đến viêm đường mật.
Một vấn đề thứ phát thường gặp là thiếu nước và dinh dưỡng ở những bệnh nhân tắc mật trầm trọng do buồn nôn, nôn, và mệt mỏi toàn thân. Sự bổ sung đầy đủ lượng nước thiếu và dinh dưỡng là quan trọng để tránh những biến chứng nặng sau phẫu thuật.


Các phương pháp điều trị
- Phẫu thuật cắt bỏ
Diễn tiến tự nhiên của bệnh nhân carcinoma đường mật là xấu với mong muốn sống sót 5 năm. Chỉ có một phương án điều tạ được đưa ra là phẫu thuật cắt bỏ. Nhưng cần có sự cân nhắc trước phẫu thuật và sự lựa chọn của bệnh nhân.
Phẫu thuật cắt bỏ điều trị là kết quả tiên đoán mạnh nhất, và có khả năng thực hiện ở những trung tâm chuyên ngành với tỉ lệ tử vong khoảng 5 đến 10%.
- Hoá trị và xạ trị
Carcinoma đường mật đáp ứng kém với cả điều trị hoá chất và tia xạ. Việc dùng hoá trị và xạ trị đơn độc hay phối hợp với phẫu thuật vẫn còn tranh cãi.
Có ba vấn đề khác nhau có thể dùng hoá trị liệu. Đầu tiên, như là điều trị tân dược trước khi phẫu thuật cắt bỏ. Thứ hai là điều trị hỗ trợ sau khi phẫu thuật cắt bỏ điều trị hay phẫu thuật cắt bỏ không điều trị. Ba là điều trị giảm đau.
- Ghép gan
Ghép gan đã được đề xuất như là một điều trị lý tưởng cho những khối u gan tiên phát, hỗ trợ cho việc cắt bỏ khối u hoàn toàn. Những kết quả của việc ghép gan đối với carcinoma đường mật là thất bại, với tỉ lệ sống còn 5 năm chỉ có 17% và thời gian sống còn trung bình chỉ là 15 tháng.
Vì vậy, trong carcinoma đường mật vẫn được coi như là chống chỉ định ghép gan ở hầu hết các trung tâm, những kế hoạch hỗ trợ mới và những kỹ thuật chẩn đoán mới có thể đưa đển một sự cân nhắc lại về việc ghép gan ở carcinoma đường mật.


- Điều trị giảm đau
Điều trị vàng da do tắc nghẽn là trọng tâm chỉnh ở những bệnh nhân carcinoma đường mật không phẫu thuật được. Những nghiên cứu có kiểm soát so sánh những quy trình khác nhau không thấy sự tiện dụng nào hơn. Sự lựa chọn từng phương pháp điều trị dựa vào mức độ bệnh và tình trạng của bệnh nhân.
Bài thuốc bạch hoa xà thiệt thảo hỗ trợ điều trị ung thư đường mật:
+ Bài thuốc 1:

Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
+ Bài thuốc 2:
  • Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g
  • Nhân trần 40 g
  • Kim tiền thảo 40 g

Sắc uống ngày một thang (lợi đởm hợp tễ). 

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Làm sao để chẩn đoán, xác định ung thư vú

Ung thư vú (UTV) là một căn bệnh hay gặp và có tỷ lệ gây tử vong hàng đầu trong số các loại bệnh ung thư ở nữ giới ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, cùng với ung thư cổ tử cung thì ung thư vú căn bệnh ung thư hàng dầu ở nữ giới.


Cho đến nay, với sự phát triển của y học thì căn bệnh này đã có thể được chẩn đoán sớm từ đó có những biện pháp điều trị đem lạ hiệu quả.
Ba phương pháp kinh điển chẩn đoán xác định ung thư vú:
- Lâm sàng: Khối u vú thường không gây đau, một số trường hợp có chảy dịch đầu vú (dịch máu hoặc dịch vàng chanh) u có mật độ cứng rắn, mặt gồ ghề, ranh giới có thể rõ hoặc không.
Trong những trường hợp đến muộn, u có thể xâm lấn vào thành ngực làm hạn chế di động hoặc xâm nhiễm da tạo hình ảnh “sần da cam” hoặc vỡ loét, đôi khi ung thư vú cũng biếu hiện như một viêm tấy lan toả vùng vú (ung thư vú thể viêm).
Trong nhiều trường hợp bệnh nhân thường có hạch nách cùng bên, hạch có thể có các mức độ tổn thương từ mềm đến cứng hoặc xâm nhiễm dính vào xung quanh tuỳ theo mức độ tiến triển bệnh. Trong mọi trường hợp đều phải lưu ý khám hạch thượng đòn và tuyến vú đối bên.
- Chụp X-quang tuyến vú: tổn thương điển hình có dạng hình sao nhiều chân, co kéo tổ chức tuyến vú, có nhiều chấm vi canxi hoá tập họp thành đám.


- Xét nghiệm tế bào học: Thường thấy các tế bào ung thư mất sự kết dính, đa hình thái, tỷ lộ nhân nguyên sinh chất tăng...
Khi cả ba phương pháp trong bộ ba kinh điển đều cho kết quả dương tính thì có thể đi đến chấn đoán xác đinh. Nếu một trong ba phương pháp này nghi ngờ, bác sĩ lâm sàng có thể chỉ đinh sinh thiết kim, sinh thiết tức thì hoặc sinh thiết mở thường quy để khẳng định chẩn đoán.
Các phương pháp chẩn đoán khác:
- Sinh chiếc kim: Cho phép lấy mảnh tổ chức làm xét nghiệm giải phẫu bệnh định typ mô bệnh học và các xét nghiệm cao cấp khác.
- Sinh chiếc tức chì: Cho phép chẩn đoán xác định ung thư ngay khi bệnh nhân ở trên bàn mổ.
- Sinh chiếc mở: Trong nhiều trường hợp chỉ phát hiện được ung thư sau khi đã phẫu thuật lấy u. Vì vậy, mọi trường hợp mổ u vú đều bắt buộc phải kiểm tra giải phẫu bệnh khối u, đặc biệt là đối với các bệnh nhân trên 35 tuổi.
Các xét nghiệm đánh giá bilan (sự cân đối) chung và đánh giá tình trạng di căn xa: xét nghiệm máu, sinh hoá, siêu âm, X-quang
Chẩn đoán giai đoạn
Chẩn đoán TNM và giai đoạn theo Tổ chức Chống ung thư quốc tế UICC 2002.


T: u nguyên phát (Pnmary tumor).
Tx: Không xác đinh được u nguyên phát.
To: Không có dấu hiệu u nguyên phát.
Tis: Carcinoma tại chỗ: carcinoma nội ống, carcinoma thể thuỳ tại chỗ, hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không sờ thấy u.
Tl: u có đường kính lớn nhất không vượt quá 2cm.
TI vi thế: U có đường kính 0,1 cm.
TI a: 0,1 U 0,5 cm.
Tlb: 0.5 cm U 1 cm.
T1c : 1 < U 2 cm.
T2: 2cm < U 5cm.
T3: U > 5cm.
T4: U mọi kích thước nhưng có xâm lấn thành ngực hoặc da bao gồm.
T4a: Xâm lấn tới thành ngực.
T4b: U xâm lấn tới da bao gồm sần da cam hoặc loét da vú, hoặc nhiều khối u dạng vệ sinh ở da.
T4c: Bao gồm T4a và T4b nhưng giới hạn ở một bên vú.
(Chú giải: Thành ngực bao gồm xưong sườn, cơ liên sườn 11 và cơ răng trước không lý như cơ ngực lớn).
N: Hạch vùng.
Nx : Không xác đinh được hạch vùng (ví dụ hạch đã được lấy bỏ).
NO : Không có di căn hạch vùng.
NI : Di căn hạch nách cùng bên di động.
N2: Di căn hạch nách cùng bên dính nhau hoặc dính vào tổ chức xung quanh.
N3: Di căn hạch vú trong và/hoặc hạch thượng đòn cùng bên.
M : Di căn xa.
Mx: Không xác đinh được di căn xa.
M0: Không có di căn xa.
Ml: Di căn xa.

Tóm lại, ung thư vú là một căn bệnh rất phổ biến ở phụ nữ Việt Nam cũng như trên thế giới, trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú đòi hỏi phải nắm vững những kiến thức cơ bản về sinh bệnh học và cũng rất cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc thuộc nhiều chuyên khoa sâu về ung thư học nhằm đạt được thành công ở mức độ cao nhất.

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Làm cách nào phòng ngừa và điều trị bệnh quai bị?

Quai bị là một căn bệnh do vi rút gây ra ở tuyến nước bọt. Đây là một bệnh rất dễ truyền nhiễm qua đường hô hấp, nước bọt hoặc đường ăn uống, … Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì căn bệnh này có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng thường dễ mắc bệnh nhất là ở trẻ em độ tuổi từ 5 đến 8, còn đối với người lớn thì ít hơn.


Quai bị có nguy hiểm không?
Đây là một căn bệnh khá dễ gặp ở trẻ em, đặc biệt là vào mùa hè và mùa xuân, những lúc thời tiết nắng nóng. Theo cảnh báo của WHO thì căn bệnh này có thể gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm, trong đó nặng nhất có thể dẫn đến vô sinh.
Theo nghiên các nghiên cứu thì nếu bệnh nhân chủ quan, không điều trị đúng cách có thể dẫn đến biến chứng làm viêm teo tinh hoàn ở nam (thường chiếm tỷ lệ cao) hoặc suy buồng trứng ở nữ (tỷ lệ thấp hơn). Vì vậy quai bị cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đúng cách để tránh các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Các triệu chứng của bệnh quai bị là gì?
Bạn có thể phát hiện ra mình hoặc người khác có bị quai bị không thông qua một số biểu hiện sau:
- Khi mới bị, bạn sẽ có cảm giác khó chịu, sợ gió, nhức đầu, đau trước tai và khó nhai (xuất hiện khoảng một đến hai ngày).
- Bạn bị sốt cao từ 39 - 40 độ C trong 3 đến 4 ngày cộng với chảy nước bọt.
- Một bên má ở gần mang tai bắt đầu sưng to và một hoặc vài ngày sẽ lan sang bên kia gây cảm giác đau khi nuốt.
- Chỗ sưng nhưng không tấy đỏ, và không hoá mủ nhưng da bóng lên, ấn không lún, họng hơi đỏ và lỗ ống Stenon hơi tấy lên.


Cách điều trị và phòng bệnh quai bị
Khi có các triệu chứng của quai bị thì bạn nên:
- Cần hạ sốt, hạ thân nhiệt bằng khăn ấm.
- Người mắc bệnh nên đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác để phòng tránh lây nhiễm. Tốt nhất là nên cách ly người bệnh khoảng 2 tuần kể từ khi phát hiện bệnh.
- Không nên tự ý sử dụng các loại thuốc uống, bôi hoặc đắp lên vùng bị sưng đau để tránh bị nhiễm độc.
- Chú ý giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ nhưng cũng cần lưu ý kiêng nước lạnh và gió. Nên súc miệng thường xuyên bằng nước muối hoặc nước muối sinh lý.
- Nên để bệnh nhân nghỉ ngơi và hạn chế vận động.
- Ăn thức ăn mềm, dễ nuốt, dễ tiêu hóa nhưng vẫn phải đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng. Đặc biệt nên ăn nhiều loại rau xanh và trái cây tươi để tăng cường miễn dịch, không ăn cá mè, cá chép, đồ nếp.
- Nếu sốt cao liên tục và không hạ sốt được hoặc thấy xuất hiện biến chứng thì cần sớm đưa đến bệnh viện.


Các bài thuốc Đông y trị quai bị
Bên cạnh các cách phòng bệnh và điều trị trên, sử dụng các bài thuốc Đông y trị quai bị cũng mang lại kết quả rất tốt trong trường hợp chưa xuất hiện biến chứng.
BÀI THUỐC TRỊ QUAI BỊ
+ Dược liệu:
Bản lam căn: …….. 10gr
Bồ công anh: …….. 6gr
Quán chúng: …….. 10gr
Thảo hà xa: ……… 10gr
Huỳnh bá: ……….. 10gr
Xích thược: ……… 6gr
Đại hoàng: ………. 6gr
+ Chủ trị:
Bệnh quai bị. Tây y gọi là viêm tuyến nước bọt tính truyền nhiễm.
+ Công hiệu:
Tiêu trừ bệnh quai bị
+ Cách dùng:
Sắc uống mỗi ngày 1 thang
BÀI THUỐC TIÊU ĐÀM ĐỘC
+ Dược liệu:
Công lao diệp: ….. 15gr
Hạ khô thảo: ……. 15gr
Huỳnh liên: ……… 6gr
Triết bối mẫu: …... 10gr
Tử địa đinh: ……... 15gr
Kim ngân hoa: …. 10gr
Xích thước: …….. 10gr
Hải tảo: …………. 10gr
Côn bố: …………. 10gr
+ Cách dùng:
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
+ Công hiệu:
Tiêu đàm, tan kết hạch.
+ Chủ trị:

Viêm tuyến lâm ba cấp tính.

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Những bài thuốc Đông y trị viêm họng, ho

Trong một cuộc sống đầy ô nhiễm, khi mà con người đang hằng ngày phải tiếp xúc với rất nhiều khói bụi, hoá chất độc hại từ môi trường xung quanh thì những căn bệnh về đường hô hấp như ho việm họng, đã trở thành những căn bệnh rất phổ biến.

Bên cạnh các loại thuốc tây y đem lại hiệu quả nhanh nhưng lại chứa nhiều chất kháng sinh gây ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ thì các bài thuốc Đông y đem lại hiệu quả tốt lại không ảnh hưởng đến sức khoẻ là sự lựa chọn của rất niều người.
THANG TRỊ VIÊM HỌNG MÃN TÍNH
+ Dược liệu:
Sinh địa: ........... 15gr
Mạch đông: ....... 10gr
Nguyên sâm: ..... 15gr
Kim quả lãm: .... 10gr
Thảo hà xa: ...... 15gr
Hoàng cầm: ....... 10gr
Kim ngân hoa: ... 15gr
Phán đại hải: ..... 10gr
Có thể gia giảm một số vị tuỳ theo tình trạng bệnh.
Nếu người kèm theo bệnh amidan sưng to, thì thêm:
Sơn từ cô: .......... 10gr
Công lao diệp: ... 15gr
Triết bối mẫu: .... 10gr
Nếu người ho không có đàm thì thêm:
Tỳ bà diệp: ....... 10gr
Sa âm: .............. 12gr
Nếu do viêm mũ biến thành thành thì thêm:
Tân di: ........... 10gr
Thương nhĩ tử: 15gr
+ Chủ trị:
Viêm họng mãn tính.
+ Công hiệu:
Dưỡng âm, thanh nhiệt, thông mát cổ họng.
+ Cách dùng:
Sắc uống.

TOA THUỐC DỨT HO NGĂN SUYỄN
+ Dược liệu:
Nhân sâm: ............ 60gr
Phục linh: ............. 60gr
Cáp giới: .............. một cặp
Tri mẫu: ............... 60gr
Hạnh nhân: .......... 60gr
 Bối mẫu: ............. 60gr
 Cam thảo: ........... 60gr
Tang bì: ............... 60gr
+ Chủ trì:
Chứng phế khí suyễn, ho hen, ho có mũ máu.
+ Công hiệu:
Cáp giới có tác dụng bổ phế, dứt ho, bình suyễn; nhân sâm, phục linh, cam thảo có tác dụng hòa trung kiện tỳ, lợi thấp; bối mẫu, hạnh nhân, tang bạch bì có tác dụng thanh phế, hóa đàm; trư mẫu có tác dụng thanh nhiệt nhuận phế. Kết hợp các vị thuốc tạo nên công hiệu dứt ho, định suyễn.
Ho là chứng bệnh tuổi già thường có vì thân thể suy nhược, dẫn đến phế khí hư suy, tỳ không vận chuyển mạnh, lâu ngày sinh nhiệt. Toa thuốc kết hợp hợp lý, dược tính, ổn định, người già gặp các chứng trên uống rất thích hợp.
+ Chế biến:
Nghiền thuốc thành bột mịn.
+ Cách dùng:
Mỗi ngày 3 lần sáng, trưa, tối. Mỗi lần 6- 9gr.
THANG TRỊ VIÊM AMIDAN CẤP TÍNH
+ Dược liệu:
Nguyên sâm: ........ 60gr
Sinh thạch thảo: ... 30gr
Bản lam căn: ........ 15gr
Mã bột: ................ 6gr
Kim ngân hoa: ...... 15gr
Huỳnh cầm: .......... 10gr
Xích thược: .......... 10gr
Gia giảm:
Nếu amidan đã có mủ thì thêm:
Thảo hà xa: .......... 12gr
Kim quả lãm: ........ 10gr
Liên kiều: ............. 12gr
Nếu người ho có nhiều đàm thì thêm:
Qua lâu: ............... 15gr
Hạnh nhân: .......... 10gr
Nếu người táo bón, phân cứng thì thêm:
Đại hoàng: 10gr
+ Cách dùng:
Sắc uống.
+ Công hiệu:
Thanh nhiệt giải độc, dưỡng âm, thông yết hầu,

+ Chủ trị:
Viêm amidan cấp tính Đông y gọi là “cấp tính nhũ nga”. Bệnh chủ yếu là do phong nhiệt tà độc xâm nhập yết hầu, hoặc thể âm suy, lại bị cảm tà nhiệt, hư hỏa vọng lên trên, kết khối ở cổ họng.